Nét đẹp trong lễ cưới Việt Nam

Thứ Hai, ngày 18 tháng 12 năm 2017 10:38:19 Asia/Saigon

“Ma chê, cưới trách” là lời nhắc cho các gia đình đừng để xảy ra điều gì khiến phải chê trách trong đám cưới. Bởi người dân Việt Nam coi đám cưới là một việc thiêng liêng, trọng đại trong đời người…

 

Trình tự tiến hành lễ cưới của người Việt Nam, từ Nam chí Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi – tên gọi có thể khác nhau, nhưng đều thống nhất như sau: 

Sự mối manh: Đầu tiên phải có người trung gian, đóng vai trò bắc cầu cho hai bên gia đình… Đó thường là người đứng tuổi, có uy tín, có kinh nghiệm. 

Lễ chạm ngõ

Được sự đồng ý của nhà gái, nhà trai đem lễ sang. Đồ lễ bắt buộc phải có là trầu, cau, rượu, chè. Phải có trầu cau mới được, vì câu chuyện trầu cau trong cổ tích Việt Nam là tiêu biểu cho tình nghĩa vợ chồng, họ hàng ruột thịt. Không có trầu là không theo lễ.

Lễ vấn danh (ăn hỏi)

Chữ Hán gọi chữ này là lễ vấn danh (hỏi tên tuổi, so đôi lứa). Gọi như thế thôi chứ người ta đã biết rõ rồi. Cô gái nhà nào đã nhận lễ vấn danh coi như đã có chồng (dù chưa cưới). Cô đã phải biết bổn phận rồi, và những nhà khác cũng phải biết, đừng lai vãng mối lái gì nữa. Nhân dân nói một cách mộc mạc mà rất có ý vị. Đó là ngày bỏ hàng rào. Nghĩa là con gái nhà này đã được gài, được đánh dấu rồi, xin đừng ai hỏi đến nữa. Còn một cái tên nôm na để dịch lễ vấn danh: lễ ăn hỏi.

Sau ngày lễ ăn hỏi, phải có báo hỉ, chia trầu. Nhà gái trích trong lễ vật nhà trai đưa đến một lá trầu, một quả cau, một gói trà (pha đủ một ấm), một cái bánh cốm, hoặc vài hạt mứt. Tất cả gói thành hộp hay phong bao giấy hồng, mang đến cho các gia đình họ hàng, bạn hữu của nhà gái. Nhà trai cũng báo hỉ, nhưng không phải có lễ vật này mà chỉ cần thiếp báo hỉ thôi. Cũng trong lễ ăn hỏi, hai họ định luôn ngày cưới. 

Lễ cưới

Lễ nạp tài: Là ngày nhà trai phải đem sính lễ sang nhà gái. Đồ sính lễ gồm trầu cau, gạo nếp, thịt lợn, quần áo và đồ trang sức cho cô dâu. Ý nghĩa của lễ nạp tài là nhà trai góp với nhà gái chi phí cỗ bàn, cho nhà gái và cô dâu biết đã có sẵn cho cô dâu đầy đủ. Đồ nữ trang cho cô dâu làm vốn sau này, cô có thể yên tâm xây dựng tổ ấm mới, chứ không đến nỗi sẽ gặp cảnh thiếu thốn. 

Do khong hiểu ý nghĩa này, mà nhiều nơi đã xảy ra nạ thách cưới. Nhà gái đòi điều kiện của cải, bù vào việc nhà mình mất người. Rồi còn xảy ra tệ nạn sau khi cô dâu về, bà mẹ chồng đã thu lại các của cải để bù vào việc đi vay mượn trước đó. Thách cưới đã thành hủ tục, giờ đây đã được bỏ đi. 

Lễ xin dâu 

Trước giờ đón dâu nhà trai cử người đem trầu, rượu đến xin dâu, báo đoàn đón dâu sẽ đến. 

Lễ rước dâu 

Đoàn rước dâu của nhà trai đi thành từng đoàn, có cụ già cầm hương đi trước, cùng với người mang lễ vật. Nhà gái cho mời cụ già thắp hương vái trước bàn thờ rồi cùng ra đón đoàn nhà trai vào. Cô dâu đứng sẵn để cùng với chú rể lạy trước bàn thờ, trình với tổ tiên. Sau đó hai người cùng bưng trầu ra mời họ hàng. Bố mẹ cô dâu tặng quà cho con gái mình. Có gia đình cũng lúc này bày cỗ bàn cho cả họ nhà gái chung vui. Khách nhà trai cũng được mời vào cỗ. Sau đó là cả đoàn rời nhà gái, để đưa dâu về nhà chồng. Họ nhà gái chọn sẵn người đi theo cô gái, gọi là các cô phù dâu. 

Rước râu vào nhà 

Đoàn đưa dâu về đến ngõ. Lúc này, bà mẹ chồng cầm bình vôi, tránh mặt đi một lúc, để cô dâu bước vào nhà. Hiện tượng này được giải thích theo nhiều cách. Thường người ta cho rằng việc làm này có ý nghĩa khắc phục những chuyện cay nghiệt giữa mẹ chồng và nàng dâu sau này. 

Lễ tơ hồng 

Cả hai họ cùng ngồi ăn uống xong, tất cả ra về, trừ người thân tín thì ở lại. Họ chờ cho cô dâu chú rể làm lễ cúng tơ hồng. Người ta cho rằng vợ chồng lấy được nhau, là do ông Tơ bà Nguyệt trên trời xe duyên cho. Cúng tơ hồng là để tạ ơn hai ông bà này. Lễ cúng tơ hồng đơn giản nhưng rất thanh lịch, không có cỗ bàn nhưng có rượu và hoa quả. Có thể cúng trong nhà, mà cũng có thể cúng dưới trời . Ông cụ già cầm hương lúc đón dâu, hoặc ông cụ già cả nhất của họ hàng, chứng kiến buổi lễ. Lạy cụ tơ hồng, rồi hai vợ chồng vái nhau (gọi là phu thê giao bái). Các đám cưới quý tộc thì việc tổ chức có quy cách hơn.

Trải giường chiếu 

Xong lễ tơ hồng, thì cô dâu chú rể cùng mọi người vào phòng cô dâu. Trong lúc này trên chiếc giường cưới đã có sẵn đôi chiếu mới úp vào nhau. Bà mẹ chồng, hoặc một bà cao tuổi khác, đông con nhiều cháu, phúc hậu, hiền từ, sẽ trải đôi chiếu lên giường, trải cho ngay ngắn, xếp gối màn cẩn thận. 

Lễ hợp cẩn 

Đây là buổi lễ kết thúc đám cưới tại nhà trai. Trước giường có bàn bày trầu rượu và một đĩa bánh. Loại bánh này gọi là bánh phu thê (sau này ta đọc thành bánh xu xê). Ông cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng cùng uống, phải cùng cạn chén, cùng ăn hết cái bánh - chỉ co hai vợ chồng, không chia cho ai, không để thừa. 

Mọi người ra ngoài, để hai vợ chồng cùng tâm sự. Ở một số nhà khá giả, thiên về hoạt động văn hoá, thì những bạn bè văn chương chữ nghĩa với chàng rể còn mang hoa, thắp đền sáng rực trong phòng hợp cẩn. Họ cũng ca hát, gây tiếng động, hoặc vỗ tay, đập các khúc gỗ vào nhau. Do đó mà sau có chữ động phòng hoa chúc. 

Lễ lại mặt 

Cũng gọi là ngày nhị hỉ, lễ cưới xong, sáng hôm sau, hai vợ chồng trẻ sẽ trở về nhà gái, mang theo lễ vật để tạ gia tiên. Lễ vật cũng có trầu, xôi, lơn. Bố mẹ vợ làm cơm để mời chàng rể và con gái mình. Ở một số trường hợp nếu xảy ra chuyện gì mà nhà trai không bằng lòng sau đêm hợp cẩn, thì lễ nhị hỉ lại có những chuyện không hay. Nhưng trường hợp này rất hiếm. 

Lễ cheo

Lễ cưới Việt Nam còn có một hiện tượng độc đáo, đó là lễ cheo. Lễ cheo có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày. Lễ cheo là nhà trai phải có lễ vật hoặc kinh phí đem đến cho làng hay cho xóm có con gái đi lấy chồng. Lễ cưới là để họ hàng công nhận, lễ cheo là để xóm làng tiếp thu  thêm thành viên mới, tế bào mới của làng. Thật ra đây cũng là thủ tục như bây giờ chúng ta đăng ký ở Uỷ ban. Song người Việt không cho đó chỉ là thủ tục, mà là một lễ nghi hẳn hoi. Người theo chữ nghĩa sách vở thì gọi lễ cheo này là lễ lan nhai (nhiều người đọc ra là lễ lan giai). Lan nhai có nghĩa là tiền nộp cheo cho làng khi nhà trai đến đón dâu ở nhà gái.

Cách thức tổ chức, trình tự tiến hành của một đám cưới Việt Nam ngày xưa là như vậy. Những đám cưới theo kiểu mới hiện nay, theo phong trào, theo quan niệm mới (thật ra thì chưa thành quan điểm), ta cứ làm mà thực ra thì chưa ưng lắm. Gần đây đời sống của ta có tươi hơn, chuyện xã giao, chuyện theo đà cũng rầm rộ hơn, khiến cho nhiều người biết là không ổn mà vẫn cứ phải theo những kiểu cách phô trương (có cả trục lợi). 

Nhìn lại các phong tục cổ truyền của đám cưới ngày xưa, phải thành thực nhận rằng nhiều người trong chúng ta chưa thật tiếp cận đúng với tinh thần, ý nghĩa nên chỉ thấy phần thiếu sót: nhiều nghi lễ phiền phức, mang tính phong kiến nặng nề; nhiều hủ tục: chuyện thách cưới, chuyện ở rể, chuyện đăng môn hộ đối… làm giảm đi ý nghĩa của hôn nhân, đám cưới phô trương cỗ bàn, khoe khoang y phục, hát xướng… 

Thật ra người dân ta, ngày xưa có ưa gì những đám cưới loè loẹt đâu. Nhưng một mặt khác, lại phải thấy rằng, cách tổ chức ngày xưa quả thực có ý nghĩa sâu sắc và có những nét đẹp. Các đám cưới mới của chúng ta ngày nay, phải xin phép để nói rằng, nhiều trường hợp đã không thể hiện được cái đẹp, cái hay đã có.

Về ý nghĩa sâu sắc, có tính cách triết học, có thiên về tâm linh, người ta hiểu rằng: hôn nhân là việc hệ trọng, là thiêng liêng. Vì thế người ta thấy cần phải theo lễ. Phải gọi là lễ cưới chứ không chỉ là đám cưới suông. Lấy vợ, lấy chồng là một việc thiêng liêng của đời người. Lấy nhau vì tình, nhưng cũng còn vì nghĩa nữa. Nhiều cô cậu ngày nay chỉ biết yêu nhau mà lấy nhau, để thoả mãn sự gắn bó, có lẽ không khẳng định là dài hay ngắn. 

Cưới vợ cưới chồng ở Việt Nam la có sự chứng kiến của thần thánh tổ tiên (có tơ hồng). Đó là thần quyền. Rồi phải có làng xóm, pháp luật công nhận (lễ nộp cheo. Đó là pháp quyền. Và trước nhất anh chị phải yêu nhau, phải thấy hợp nhau, hợp tuổi tác. Đó là nhân quyền. Những đám cưới có hai cô cậu biết nhau (mời bạn bè đến ăn) cũng chỉ là quan hệ cá nhân mà thôi. Chỉ biết yêu, chứ không biết đó là thiêng liêng, nên sự ràng buộc chỉ là mức độ.

Đám cưới Việt phải có trầu, cau mới thể hiện được sự ràng buộc của tình nghĩa vợ chồng và linh ứng của thần linh. “Ba đồng một mớ trầu cay – Sao anh không hỏi những ngày còn không…” là ý nghĩa như thế. 

Lễ vật đám cưới truyền thống - ở các nhà bình dân – không có mâm cao cỗ đầy, không ai đếm món: mâm này năm trăm, mâm kia sáu trăm, nhà các quan to thì lắm xe đưa đón. Nhưng người dân Việt Nam biết chọn các lễ vật đẹp. Những cốm, hồng, những dây lụa chăng đường, những bài thơ, bài hát. Thật là đẹp đẽ và cảm động. Cái đẹp của lễ cưới Việt Nam là như thế.

Nguồn: Thời Trang Trẻ

Bí ẩn về trang phục cưới của cô dâu Ấn Độ

Thứ Ba, ngày 17 tháng 10 năm 2017 15:04:33 Asia/Saigon

Đất nước thuộc khu vực Nam Á này được biết đến với những trang phục váy cưới truyền thống vô cùng ấn tượng kèm theo là hệ thống phụ kiện, nữ trang tinh xảo cùng nghệ thuật vẽ cơ thể vô cùng đặc biệt thể hiện rõ bản sắc trong lễ hội cưới truyền thống.
 
Khám phá chiếc váy cưới rực rỡ của cô dâu Ấn và Pakistan người ta không khỏi trầm trồ ngợi khen và bị thu hút vào những đường nét đặc biệt vô cùng tinh xảo của nó. Với màu đỏ truyền thống, các cô dâu ấn nổi bật và gây sự chú ý nhất với nhiều họa tiết hoa văn mang đậm ý nghĩa của sự phồn vinh và bản sắc dân tộc. Trong hệ thống váy cưới của các cô dâu ấn không chỉ thể hiện ở màu đỏ truyền thống mà còn được thể hiện ở cách đính các hạt trang sức lấp lánh sắc màu trên thân áo, cổ tay, viền cổ... , những chiếc váy được phân biệt rõ với trang phục khác chính là màu sắc sặc sỡ và vô cùng thu hút.
Sari - trang phục của cô dân Ấn Độ
 
Người Ấn có quan niệm, cô dâu càng xinh đẹp, thì càng nhận được nhiều hạnh phúc. Chính vì vậy, "xiêm y" cưới của họ đều được sáng tạo một cách cầu kỳ và tỉ mỷ, ngắm nhìn một thiết kế váy cưới chúng ta có thể thấy được cả sự khéo léo và óc sáng tạo đầy nghệ thuật. Kèm theo trang phục là những chiếc khăn đội đầu tạo vẻ đẹp và sự e ấp nữ tính của các nàng dâu.
Sari là trang phục cưới truyền thống và phổ biến nhất của các cô dâu Ấn Độ và Pakistan, phần lớn trong các lễ cưới hỏi, họ thường hay mặc sari màu đỏ để tôn lên vẻ đẹp rực rỡ của người phụ nữ.
Hơn nữa, các cô dâu Ấn thường mang trên người rất nhiều nữ trang, có thể nói, những món đồ trang sức là một trong những thành phần quan trọng không thể thiếu đối với trang phục cưới truyền thống. Người Ấn quan niệm rằng, phụ nữ phải dùng trang sức mới được chồng thương yêu.
 
Tất cả những món đồ trang sức của cô dâu nước Ấn đều được sáng tạo theo quy luật, các mắt xích hình tròn, đặc biệt là vòng cổ được lấy ý tưởng từ những tia sáng, điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với người Ấn, họ cho rằng phụ nữ là hiện thân của nữ thần mặt trời, đem đến cho vạn vật ánh sáng ấm áp, và cũng chính từ đó, mỗi cô dâu được ví như là sự khởi đầu cuộc sống với niềm tin về hạnh phúc yên ấm cho một gia đình nhỏ của mình. Trang sức cũng là vật để đánh dấu một người phụ nữ đã có gia đình như cách đeo khuyên ở mũi hay chấm một nốt son ở trán.
 
Chiêm ngưỡng bộ nữ trang của cô dâu Ấn Độ, người ta nhận thấy vẻ đẹp đặc biệt mà các thợ kim hoàn tạo nên đó chính là sự giàu có và sung túc. Nữ trang có ý nghĩa tạo nên những khát vọng của phụ nữ trong cuộc sống tương lai. Với bộ lắc tay, khuyên tai, vòng cổ, nhẫn... được sáng tạo thành dạng chùm, to bản nổi bật màu sắc lấp lánh của hồng ngọc, vàng, ngọc trai... đem lại vẻ đẹp rực rỡ và kiêu sa như nữ thần.
 
Tất các các cô dâu trên thế giới đều đẹp và các cô dâu của đất nước này còn việc trang điểm trong ngày cưới của mình là tối quan trọng. Cho đến ngày nay, họ vẫn giữ phong cách trang điểm cổ điển với kẻ mắt đậm, môi mọng, đặc biệt hàng mi giả dài cong vút tạo cho đôi mắt to và sâu thẳm huyền bí.
 
Tục xăm mình cũng là một trong những cách trang điểm cho cơ thể của các cô dâu Ấn. Mehendi cũng là một cách trang điểm độc đáo của phụ nữ Ấn. Mehndi là nghệ thuật trang trí chân tay, lưng hoặc một số vị trí khác trên cơ thể, sử dụng màu nước được làm từ lá của cây móng. Mehndi theo tiếng Ấn Độ có nghĩa là vẽ, quét.
 
Ngày xưa, trong đám cưới, khi nhà gái quá nghèo, không thể sắm đủ đồ trang sức cho con có thể dùng cành lá móng để thay thế các nữ trang bằng vàng với hoa văn cầu kỳ. Người ta còn cho rằng dùng càng nhiều cành cây móng có màu sẫm thì cô dâu càng được mẹ chồng yêu quý.
 
Khác với hình thức xăm mình (tatoo), Mehendi không gây đau đớn và lưu lại trên da trong khoảng thời gian từ vài ngày đến vài tuần. Các cô gái Ấn Độ thường xăm mình trong các ngày lễ quan trọng như: Lễ cưới, Tết Diwali… và trở thành một nghi thức bắt buộc trong nhiều lễ hội khác. Trong văn hoá Ấn Độ, Mehendi không chỉ là một kiểu trang điểm làm đẹp mà còn mang những ý nghĩa biểu tượng cho hạnh phúc và sự may mắn.
Nguồn: Internet

Đám cưới ở Australia

Thứ Ba, ngày 17 tháng 10 năm 2017 14:56:58 Asia/Saigon

Có dịp sang Melbourne (Úc) dự đám cưới tại đây mới thấy có nhiều điều thú vị, khác hẳn so với đám cưới người Việt mình ở Việt Nam.

 

Nhiều cặp vợ chồng người Úc quyết định đăng ký kết hôn và sống với nhau mà không tổ chức đám cưới do chi phí tổ chức tại nhà hàng rất đắt đỏ. Mặt khác, người Úc không có thói quen đi dự đám cưới bằng tiền, họ chỉ tặng quà lưu niệm chúc mừng cô dâu, chú rể nên mọi chi phí cho đám cưới cô dâu, chú rể phải chi toàn bộ. Người Úc tính ra số tiền đó có thể mua nhà trả góp hoặc mua ô tô cho việc đi lại sinh hoạt.

 

Khi em gái tôi nói chuyện với các bạn dân bản xứ rằng: "Đám cưới mình nhỏ lắm, chỉ mời có 150 khách thôi", thì ai cũng tròn xoe mắt: "Trời ơi, 150 người mà bạn bảo là nhỏ ư?". Thực sự đối với người Việt Nam ta nếu khách mời 150 người là hơi ít. Trung bình ở nước ta đám cưới mời khoảng 250 khách, nhưng cũng không ít đám cưới mời cả ngàn khách!

 

Ở Úc, đám cưới chỉ mời trung bình 60 đến 70 người đến dự, hầu hết là người thân trong gia đình và những bạn bè thật thân thiết. Lễ cưới của họ thường tổ chức tại nhà thờ,  khách mời tham dự sẽ chúc phúc cho cô dâu, chú rể, sau đó ra ngoài chụp hình.

 

Lễ cưới tổ chức tại công viên rất thông dụng ở Úc và các nước Âu, Mỹ. Mọi người được mời đến công viên hoặc một vườn hoa tuyệt đẹp. Cô dâu chú rể thuê ban nhạc dạo những bản nhạc cổ điển êm dịu hoặc những bản nhạc vui ấm áp. Rượu và snack sẽ phục vụ khách mời. Người chủ hôn sẽ khai mạc buổi lễ và làm lễ thành hôn cho cô dâu chú rể, sau đó thì tất cả mọi người nâng ly chúc mừng hạnh phúc.

 

Cũng có một số đám cưới được tổ chức tại nhà hàng, đây thường là những gia đình khá giả và có khả năng chi trả một số tiền lớn trong ngày cưới của họ. Trước ngày cưới, khách được mời sẽ thông báo với cô dâu, chú rể sự có mặt hay vắng của mình để cô dâu, chú rể đặt bàn sát với số khách tham dự. Cô dâu, chú rể chuẩn bị sẵn danh sách khách mời, sắp xếp theo vị trí ngồi cho phù hợp (gia đình, bạn bè quen biết...), danh sách này được in rất đẹp ở cửa nhà hàng. Như vậy tránh tình trạng có bàn chỉ ngồi vài người, bạn bè quen biết ngồi với nhau rất vui.

 

Đám cưới được đặt các món ăn sang trọng như: bào ngư, tôm hùm, các món súp..., vị chi mỗi người khoảng 300 đô la Úc. Ban nhạc chơi những bản tango, rumba, chachacha... và hầu hết mọi người đều lên khiêu vũ ở sân khấu rộng, không khí vui vẻ và thoải mái. Càng về khuya nhạc càng trẻ và sôi nổi hơn, bạn bè thường nhảy vây quanh cô dâu chú rể rất vui. Nếu bên ngoài nhìn vào sẽ cảm nhận đây thực sự là một ngày lễ tưng bừng của cô dâu chú rể, và khách mời cũng rất hân hoan, không như một số người Việt Nam quan niệm đi đám cưới gần như là để "trả nợ" và ra về khi món cuối được mang ra.

 

Buổi tiệc kết thúc khoảng 11, 12 giờ đêm, khách ra về cầm những món quà kỷ niệm của cô dâu, chú rể chuẩn bị sẵn như chocolate hình trái tim, nến thơm, chai rượu trang trí hình cô dâu - chú rể.

Tổ chức đám cưới theo phong cách truyền thống ở quê

Thứ Năm, ngày 20 tháng 7 năm 2017 09:50:54 Asia/Saigon

Mỗi vùng miền đều có phong tục cho lễ cưới khác nhau, nếu có điều kiện bạn hãy tổ chức lễ cưới ở quê nhà thay vì đãi nhà hàng như hiện nay. Đám cưới ở quê đa số các gia đình không tổ chức tiệc ở các nhà hàng mà tự nấu cỗ ngay tại gia đình. Ngoài ra, các công việc chuẩn bị cho ngày cưới chủ yếu cũng do người thân, bạn bè trợ giúp. Khi cưới tại nhà, cô dâu chú rể sẽ vất vả và có nhiều việc hơn, vì vậy 2 bạn nên vạch sẵn ra những chuẩn bị cơ bản cần thiết để tránh những thiếu sót xảy ra. Bên cạnh đó việc chuẩn bị sẽ giúp bạn có những kỷ niệm đáng nhớ hơn.

Đọc thêm

Phong tục đám cưới ở miền Bắc

Thứ Ba, ngày 18 tháng 7 năm 2017 17:23:02 Asia/Saigon

Theo thời gian, sự tiến bộ của xã hội đã kéo theo sự thay đổi của các nghi thức tổ chức một đám cưới. Tuy vậy, ở  miền Bắc, dù thay đổi nhưng vẫn giữ 3 lễ cơ bản: Dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ đón dâu (lễ cưới).

Đọc thêm